Góc Vườn Lam: CHỮ “DŨNG” CỦA NGƯỜI XƯA Huynh trưởng cấp Dũng Tâm Giới PHAN NGỌC THẢO

Kính tặng: Cố Huynh trưởng cấp Dũng Minh Kim QUÁCH VĂN THÀNH Và Huynh trưởng, Đoàn sinh Gia đình Phật tử Kiên Giang

Kính thưa quý độc giả và anh chị em nhà Lam cả nước!

Tâm Giới đã ngưỡng mộ đất và người Kiên Giang từ lâu, đặc biệt là tài năng và phẩm hạnh của cố Huynh trưởng cấp Dũng Minh Kim Quách Văn Thành.

Lúc sinh thời, anh là Ủy viên Tu thư của Ban Hướng dẫn Phân ban GĐPT Trung ương, Phó BHD Phân ban GĐPT Kiên Giang. Anh đã miệt mài biên soạn giáo án ngành Oanh, ngành Thiếu để anh chị em trong cả nước tham khảo; đồng thời sáng tác những bản nhạc vui tươi, ý nghĩa phục vụ các em đoàn sinh.

Một đức tính hết sức cao đẹp của anh là làm việc, cống hiến nhiều hơn nói, không bao giờ “khen mình, chê người”.

Tâm Giới, thay mặt anh chị em nhà Lam khắp nơi, nguyện cầu Mười phương Chư Phật từ bi gia hộ, tiếp độ chân linh anh tùy tùng Phật hậu; đồng thời kính mong anh luôn hộ trì GĐPT An Giang và GĐPT Việt Nam vượt qua chướng duyên, tinh tấn tu học, phát triển và phụng sự nhân sinh.

Sắp đến ngày Chu niên 70 năm GĐPT Kiên Giang, chị Tú Dung, Trưởng Ban Hướng dẫn Phân ban GĐPT An Giang, đề nghị Tâm Giới viết một bài. Tôi chợt nhớ đến tập Kỷ yếu GĐPT Kiên Giang mà anh chị em đã tặng tôi, trong đó có bài viết của Huynh trưởng cao niên Như Tâm Nguyễn Khắc Từ với nhan đề: “CHỮ DŨNG CỦA NGƯỜI XƯA”.

Tâm Giới rất tâm đắc với bài viết này và xin được tóm lược đôi điều về bài viết của anh Như Tâm Nguyễn Khắc Từ để cùng anh chị em nhà Lam suy ngẫm.

CHỮ “DŨNG” CỦA LẠN TƯƠNG NHƯ VÀ LIÊM PHA

Thuở nước Tần và nước Triệu là hai thế lực đối nghịch, hai nước tổ chức một cuộc hội kiến tại Mẫn Trì, thuộc nước Tần.

Phái đoàn nước Triệu có quan văn là Lạn Tương Như và quan võ là tướng Liêm Pha tham dự.

Trong cuộc hội kiến, vua Tần muốn làm nhục nước Triệu nên buộc vua Triệu phải làm một trò mua vui cho mình.

Thà hy sinh chứ không thể để nhà vua và quốc thể bị xúc phạm, Lạn Tương Như đã dùng khí thế cứng rắn, thậm chí dùng hung khí để buộc vua Tần phải đáp lại yêu cầu của vua Triệu.

Vì sợ hãi, vua Tần phải làm theo.

Kết quả, hai bên ra về trong hòa bình, nhưng câu chuyện ấy lại kéo theo nhiều hệ lụy.

Về phía nước Tần, vua Tần khen Lạn Tương Như là người trung nghĩa, đồng thời chê trách các quan tướng nước Tần là hèn nhát.

Về phía nước Triệu, Lạn Tương Như được vua ban thưởng, dân chúng tôn vinh là người hùng. Trái lại, Liêm Pha cảm thấy uất hận, cho rằng Lạn Tương Như chỉ là người “múa may ba tấc lưỡi”, rồi tìm cách làm hại ông.

Biết được sự việc, Lạn Tương Như luôn tìm cách né tránh Liêm Pha và không báo với vua Triệu về mối hiềm khích này.

Vua Triệu biết chuyện và cho người theo dõi.

Trong triều, nhiều người hỏi Lạn Tương Như:

— Tại sao ông không báo với nhà vua?

Lạn Tương Như trả lời đại ý:

“Nếu tôi báo với vua thì Liêm Pha sẽ bị mất chức. Các ông hãy nghĩ xem, người ta sợ nước Triệu là vì quân dân đoàn kết, vì có những người tài như Liêm Pha, Lạn Tương Như…”

Nghe được ý nghĩ ấy và hiểu được hành vi cao thượng của Lạn Tương Như, Liêm Pha vô cùng hối hận. Ông liền đến nhà Lạn Tương Như xin lỗi.

Từ đó, hai người hóa giải hiềm khích, cùng chung sức phụng sự đất nước. Cả nước vui mừng, bờ cõi được an yên.

LỜI BÌNH

Người đời thường đánh giá chữ DŨNG là dùng sức mạnh để giải quyết những vấn đề tranh chấp.

Nhưng cái DŨNG của Lạn Tương Như lại là sự bao dung, biết nén lòng, biết chịu đựng và nhẫn nhục để vượt qua sóng gió, vượt qua tâm đố kỵ, ganh ghét của người khác.

Còn cái DŨNG của Liêm Pha là biết nuốt nỗi buồn phiền, nhìn sâu vào sai lầm của chính mình để nhận lỗi và xin được tha thứ.

Như vậy, chúng ta có thể tôn vinh chữ DŨNG của hai vị quan văn, võ thời Chiến Quốc — một người biết nhẫn nhịn vì đại cuộc, một người biết nhận lỗi vì đại nghĩa.

CHỮ “DŨNG” CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO

Còn đất nước Việt Nam qua các triều đại, ai là người xứng đáng được ngợi ca về chữ DŨNG của thời đại mình?

Khi đọc sử Việt, hầu hết chúng ta đều tự hào về các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần… Đặc biệt, danh tướng Trần Hưng Đạo, tức Trần Quốc Tuấn, Hưng Đạo Vương, là một biểu tượng lớn của lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc.

Người viết bài này không đề cập đến những chiến công lẫy lừng của ông trong ba lần đánh thắng quân Nguyên – Mông, làm rạng danh nước Đại Việt vào các năm 1258, 1285 và 1288, mà xin được đề cập đến một phương diện khác của chữ DŨNG nơi vị tướng tài ba này.

Trần Hưng Đạo là con của Trần Liễu, anh của Trần Cảnh, tức vua Trần Thái Tông.

Trước khi qua đời, cha ông căn dặn:

“Con phải trả thù cho cha.”

Người con gục đầu tiễn cha về nơi an nghỉ cuối cùng, mang trong lòng một gánh nặng lớn:

THÙ NHÀ – NỢ NƯỚC.

THÙ NHÀ

Sau ba đêm suy nghĩ, Trần Hưng Đạo nhận thấy cái nghiệp nặng mà cha mình phải gánh chịu có liên quan đến Thái sư Trần Thủ Độ.

Nhưng ông cũng hiểu rằng Trần Thủ Độ làm tất cả nhằm củng cố vương triều nhà Trần.

Cuối cùng, ông đã gác lại việc trả thù riêng.

NỢ NƯỚC

Trần Hưng Đạo nhận thấy mình đang mang một trách nhiệm quá lớn đối với đất nước.

Là một vị tướng tài, có uy tín và ảnh hưởng lớn trong triều đình, ông hiểu rằng nếu để việc riêng chi phối thì đại nghiệp của quốc gia có thể bị tổn hại.

Vì vậy, ông đã quên chuyện riêng để đền nợ nước.

Ông tập trung con cái lại và tuyên bố rằng không một ai được nhắc đến chuyện trả thù riêng.

LỜI BÌNH

Tâm Giới nghĩ rằng, Trần Hưng Đạo là một bậc thánh về lòng bao dung, về sự chịu đựng và lòng vị tha.

Phải là một con người có dũng khí phi thường mới có thể vượt qua mối thù riêng, đặt lợi ích của dân tộc lên trên tình riêng, để rồi lập nên những chiến công hiển hách, đền nợ nước một cách kiệt xuất.

Sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ ông ở nhiều nơi để tưởng nhớ và tôn vinh. Người đời kính gọi ông là Đức Thánh Trần.

Xin bái phục Ngài!

CHỮ “DŨNG” VÀ NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

Thưa quý anh chị em nhà Lam!

Chữ DŨNG của thời Chiến Quốc Trung Hoa và chữ DŨNG thời Trần của đất nước ta đều làm nổi bật những phẩm chất cao đẹp: bao dung, độ lượng, lòng vị tha và sự chịu đựng của người xưa.

Anh chị em chúng ta hôm nay có một châm ngôn tuyệt vời:

BI – TRÍ – DŨNG

Chữ DŨNG luôn nhắc nhở chúng ta, ngoài việc khắc phục chướng duyên, vượt qua mọi nghịch cảnh trong cuộc sống, còn phải biết bao dung, chịu đựng và nhẫn nhịn trong cách ứng xử với tha nhân, đồng thời biết soi lại chính mình.

Dũng không phải lúc nào cũng là tiến lên bằng sức mạnh.

Có khi, Dũng là biết dừng lại.

Có khi, Dũng là biết nhẫn nhịn.

Có khi, Dũng là biết nhận lỗi.

Và có khi, Dũng là dám hy sinh cái riêng của mình vì lợi ích chung, vì đạo pháp, vì dân tộc và vì tha nhân.

Đó có lẽ cũng là bài học sâu sắc mà chữ DŨNG của người xưa gửi lại cho người Huynh trưởng Gia đình Phật tử hôm nay.

Kính chúc anh chị em nhà Lam cả nước luôn tinh tấn trên con đường TỪ BI – TRÍ TUỆ, biết vận dụng tốt chữ DŨNG của thời đại mình đang sống, để cùng nhau vượt qua chướng duyên, giữ gìn tình Lam và phụng sự lý tưởng Gia đình Phật tử.

Kính chúc quý anh chị em thân tâm thường an lạc, tinh tấn và luôn giữ vững niềm tin nơi con đường mình đã chọn.

Nam mô A Di Đà Phật.

Quảng Ngãi,Tiết trời vào thu se lạnh,  ngày 24 tháng 9 năm 2026 (14 tháng 8 năm Bính Ngọ)

Tâm Giới – Phan Ngọc Thảo

Được đóng lại.