HOÀI NIỆM VỀ MỘT MÙA XUÂN

Chiều cuối năm, mưa phùn lất phất bay trong cái lạnh se sắt của những ngày đông giáp Tết. Ngôi nhà nhỏ của tôi nằm sát chân đồi cuối xóm, kề bên chùa Mỹ Thiện rêu phong tĩnh mịch – nơi Gia đình Phật tử Chơn Giác đang sinh hoạt. Năm ấy là năm Tân Sửu 1961, tôi tròn bảy tuổi, vửa chập chững bước chân vào ngôi nhà Gia đình Phật tử còn ngây thơ, trong veo như giọt sương đầu cành.

Thời ấy, hầu hết các ngôi chùa quê chỉ có Ban Khuôn hội điều hành mọi Phật sự. Việc hương khói đều do ông từ già gầy sọm lặng lẽ lo toan, còn kinh kệ mỗi ngày sóc vọng hoặc hàng đêm đã có Ban tụng niệm của Khôn hội đảm trách. Không gian chùa làng yên ắng đến nao lòng, như ôm trọn cả nỗi buồn nghèo khó của xóm thôn.

Giờ này, hẳn bạn bè tôi đã quây quần bên mâm cơm tất niên, còn tôi ngồi co ro trước hiên, lặng lẽ đếm từng giọt mưa tí tách rơi, đôi mắt dõi về đầu ngõ – nơi tôi mong chờ bóng dáng người cha trở về.

Mẹ tôi vừa sinh em, đang trong thời gian ở cữ. Ít khoai, ít gạo bà con mua giúp cũng chỉ đủ cầm hơi, Tết trong nhà gần như trông cả vào chuyến đi buôn đồ gốm cuối năm của cha.

Làng tôi –Làng gốm Mỹ Thiện – sống bằng nghề truyền thống. Thiếu vốn, rất ít chủ lò, phần đông dân làng phải mua nợ sản phẩm rồi gánh bộ đi khắp các vùng quê xa xôi lên nguồn xuống biển, đổi gốm lấy lúa khoai đem về nuôi sống gia đình.

Đầu tháng Chạp, cha tôi được chủ lò bán chịu những chiếc chóe men bóng láng. Cha thuê ghe xuôi về cửa Thuận An, rồi gánh bộ lên tận Huế bán cho những gia đình khá giả mua về cắm mai đón Tết.

Có năm buôn bán ế ẩm, cha trễ tàu lửa, không kịp về nhà đón giao thừa. Chiều nay, ngồi trong mưa lạnh, tôi chắp tay khép mắt, thì thầm: “Lạy Mẹ hiền Quán Thế Âm, xin hộ trì cho cha con buôn may bán đắt, mang về cho anh em con vài bộ quần áo mới để Tết này được vui cùng chúng bạn.”

Đêm ba mươi, trời tối mịt, gió lùa lạnh buốt. Tôi cuộn tròn trong chiếc chiếu trên phản gỗ, khóc thút thít rồi thiếp đi.

Tiếng chuông trống Bát-nhã từ chùa Mỹ Thiện vọng sang làm tôi choàng tỉnh. Cha vẫn chưa về. Nhưng tiếng tụng kinh trầm ấm như bàn tay vô hình xoa dịu nỗi cô đơn thơ dại.

Sáng mồng Một, một bàn tay thô nhám đặt lên đầu tôi.

Cha đã về!

Bộ pyjama kẻ sọc thơm mùi vải mới, đôi guốc gỗ sơn đen in hoa in lá màu sắc rực rỡ, tất cả trở thành kỷ vật thiêng liêng nhất của đời tôi. Tôi hớn hở theo cha lên chùa lễ Phật, lòng thầm khoe với đời: “Tết này mình cũng có đồ mới như bao bạn nhỏ trong xóm.”

Chuông chùa ngân vang, khói trầm bảng lảng. Quỳ bên cha trước đài sen, tôi khấn nguyện cho gia đình được bình an.

Vậy mà… đã Sáu mươi lăm mùa xuân trôi qua. Ký ức ấy chưa từng phai nhạt trong đời tôi. Cuối mùa xuân năm ấy, khi tôi vừa tròn bảy tuổi, sau gần một tháng lâm bệnh, nhà nghèo, thuốc men thời ấy vô cùng khan hiếm, cha tôi vĩnh viễn ra đi, bỏ lại người mẹ trẻ và ba đứa con thơ bơ vơ giữa cuộc đời.

“Còn cha gót đỏ như son,
Một mai cha mất gót con lấm bùn.”

Từ đó, ……..hạnh phúc đơn sơ của một mùa xuân có cha mãi mãi chỉ còn trong hoài niệm…

Làng gốm Mỹ Thiện, Bình Sơn, Quảng Ngãi –  

Những ngày giữa Đông năm Ất Tỵ

Tâm Thường – Trần Khanh

Được đóng lại.